Cách làm phần đọc hiểu môn Ngữ Văn năm 2025
Cách làm
phần đọc hiểu môn Ngữ Văn năm 2025
Đặc điểm
của kiểu bài đọc hiểu văn bản.
Bài tập phần đọc hiểu Ngữ văn có
chung những đặc điểm như sau:
Kiểu bài đọc hiểu nằm ở Phần I (4 điểm) trong đề thi Ngữ văn. Ngữ
liệu đọc hiểu thường là một đoạn văn bản có thể thuộc bất cứ loại văn bản nào.
Từ văn bản khoa học, báo chí, công vụ đến văn bản nghệ thuật. Miễn là văn bản
ấy được viết bằng ngôn từ. Nhưng chủ yếu là văn bản nghị luận.
Yêu cầu đề bài của kiểu bài đọc – hiểu văn bản
Thông thường đề bài sẽ yêu cầu các em đọc hiểu và
trả lời 4 câu hỏi nhỏ. Các em sẽ hiểu rõ hơn khi tham khảo các cách làm bài đọc
hiểu ngữ văn dưới đây. Các câu hỏi phần đọc hiểu sẽ tập trung vào 1 số khía
cạnh như:
●
Nội dung chính của văn bản hoặc ý nghĩa của văn
bản.
●
Các thông tin quan trọng của văn bản: nhan đề,
phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt.
●
Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu
trúc, thể loại văn bản.
●
Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác
dụng của chúng.
Những
kiểu câu hỏi thường sử dụng ở phần Đọc hiểu
●
Ở dạng câu hỏi nhận biết: Thường hỏi xác định phương thức
biểu đạt, phong cách ngôn ngữ, tìm từ ngữ, hình ảnh, xác định cách trình bày
văn bản…
●
Ở dạng câu hỏi hiểu: Thường hỏi học sinh hiểu như thế
nào về một câu nói trong văn bản; hỏi theo học sinh thì vì sao tác giả lại cho
rằng, nói rằng…(kiểu hỏi này là để xem học sinh và tác giả có đồng quan điểm
hay không); Kiểu câu hỏi theo tác giả… Ba kiểu hỏi này thường lặp đi lặp lại.
●
Ở dạng câu hỏi vận dụng: Thường yêu cầu học sinh rút ra
thông điệp có ý nghĩa, điều tâm đắc hoặc chỉ ra những việc làm cụ thể của bản
thân.
Các bước
khi làm phần đọc – hiểu
Bước 1: Đọc thật kỹ đề bài, đọc đến
thuộc lòng rồi hãy làm từng câu, dễ trước khó sau.
●
Đề văn theo hướng đổi mới có 2 phần: đọc hiểu và
làm văn. Phần đọc hiểu thường xoay quanh nhiều vấn đề, thí sinh cần nắm vững
những kiến thức cơ bản sau:
●
Nhận biết 6 phong cách ngôn ngữ văn bản. Dựa ngay
vào các xuất xứ ghi dưới phần trích của đề bài để nhận dạng được các phong cách
như: Báo chí, Văn chương nghệ thuật, Khoa học, Chính luận, Khẩu ngữ hay Hành
chính công vụ.
●
Xác định 5 phương thức biểu đạt của văn bản dựa vào
các từ ngữ hay cách trình bày. Đoạn trích thấy có sự việc diễn biến (Tự sự),
nhiều từ biểu lộ xúc động (Biểu cảm), nhiều từ khen chê, bộc lộ thái độ (Nghị
luận), nhiều từ thuyết trình, giới thiệu về đối tượng (Thuyết minh) và có nhiều
từ láy, từ gợi tả sự vật, sự việc (Miêu tả).
●
Nhận biết các phép tu từ từ vựng (so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ, lặp từ, nói quá, nói giảm, chơi chữ…); tu từ cú pháp (lặp cấu trúc
câu, giống kiểu câu trước; đảo ngữ; câu hỏi tu từ; liệt kê).
●
Các biện pháp tu từ có tác dụng làm rõ đối tượng
nói đến, tăng thêm gợi cảm, gợi hình ảnh, âm thanh, màu sắc, làm đối tượng hấp
dẫn, sâu sắc.
●
Đối với, các văn bản trong đề chưa thấy bao giờ,
học sinh cần đọc nhiều lần để hiểu từng câu, từng từ, hiểu nghĩa và biểu tượng
qua cách trình bày văn bản, liên kết câu, cách ngắt dòng… để có thể trả lời
những câu hỏi: Nội dung chính của văn bản, tư tưởng của tác giả gửi gắm trong
văn bản.,thông điệp rút ra từ văn bản…
Bước 2: Đọc các yêu cầu, gạch chân các
từ ngữ quan trọng, câu quan trọng. Việc làm này giúp các em lí giải được yêu
cầu của dề bài và xác định hướng đi đúng cho bài làm, tránh lan man, lạc đề.
Bước 3: Luôn đặt câu hỏi và tìm cách trả
lời: Ai? Cái gì? Là gì? Như thế nào? Kiến thức nào? Để bài làm được trọn vẹn
hơn, khoa học hơn tránh trường hợp trả lời thiếu.
Bước 4: Trả lời tách bạch các câu, các
ý. Chọn từ ngữ, viết câu và viết cẩn thận từng chữ.
Bước 5: Đọc lại và sửa chữa chuẩn xác
từng câu trả lời. Không bỏ trống câu nào, dòng nào.
Một số lưu ý trong quá trình làm
bài
●
Viết đúng từ ngữ, trình bày rõ ràng, đúng chính tả,
dấu câu, không viết dài.
●
Chỉ dùng thời gian khoảng 30 phút làm câu hỏi đọc
hiểu. Trả lời đúng câu hỏi của đề.
●
Làm trọn vẹn từng câu, không bỏ ý, không viết vội
vàng để giành chắc chắn từng 0,25 điểm bài.
Mẹo làm
bài đọc hiểu thi THPT Quốc gia
A. Phần đọc hiểu
- Đề bài
người ta thường đưa một khổ thơ hoặc một đoạn và yêu cầu học sinh đọc và trả
lời các câu hỏi.
- Các câu
hỏi thường gặp:
●
Xác định thể thơ/ Xác định phong các ngôn ngữ của
đoạn trích
●
Nội dung chính của khổ thơ/ đoạn trích là gì? (Câu
chủ đề của đoạn trích là gì – với đoạn văn)
●
Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được sử dụng chủ
yếu trong khổ thơ/ đoạn trích? Tác dụng của chúng?
2. Giải quyết đề
2.1. Với thơ
- Câu hỏi
1:
+ Xác
định thể thơ bằng cách đếm số chữ
trong từng câu thơ. Thông thường trong bài người ra đề sẽ cho vào các thể thơ bốn chữ/ năm chữ/ bảy chữ/ lục bát
+ Các thể
thơ trung đại như thất ngôn bát cú (7 chữ/ câu, 8 câu/bài), thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ/
câu, 4 câu/ bài)… xác định bằng cách đếm số chữ trong một câu và số câu trong một bài. (Các thể thơ
thuộc giai đoạn trung đại trong đề thường ít cho nhưng phải nắm được cách xác
định)
- Câu hỏi
2: Đưa nội dung chính của khổ thơ, tức là dụng ý cuối cùng của tác giả.
Ví dụ:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể….
=> Nội
dung: Trạng thái của con sóng và các cung bậc cảm xúc của tình yêu trong trái
tim người con gái đang yêu.
- Câu 3:
phân tích khổ thơ như bình thường, tức là đi từ nghệ thuật đến nội dung của khổ
thơ. Xác định nội dung khổ thơ theo trình tự sau: Lớp nghĩa trên bề mặt (diễn xuôi
câu thơ) -> liên tưởng, tưởng tượng (các hình ảnh thơ trong câu thơ) ->
Dụng ý của tác giả
2.2. Với văn
- Câu 1
(Thường là xác định phong cách ngôn ngữ/ Phương thức biểu đạt/Thao tác lập luận
của đoạn trích):
* Có một
số loại phong cách ngôn ngữ cơ bản sau:
a. Khẩu ngữ (Sinh hoạt): được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, là ngôn ngữ sinh
hoạt đời thường với ba hình thức chủ yêu là trò chuyện, nhật kí, thư từ; tồn tại chủ yếu dưới dạng nói.
Các đặc điểm ngôn ngữ:
+ Mang
đậm dấu ấn cá nhân
+ Dùng
những từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình
ảnh và cảm xúc.
+ Những
từ ngữ chỉ nhu cầu về vật chất và
tinh thần thông thường (ăn, ở, đi lại, vui chơi, giải trí,…) chiếm tỉ lệ lớn
=> Một
số hiện tượng nổi bật: lớp từ ngữ chỉ tồn tại trong phong cách này như tiếng
tục, tiếng lóng,…; sử dụng nhiều từ láy, đặc biệt là các từ láy tư (đỏng đa
đỏng đảnh, hậu đà hậu đậu, tầm bậy tầm bạ,….); dùng cách nói tắt (hihu, …); sử
dụng kết hợp từ không có quy tắc (xấu điên xấu đảo, xấu như con gấu,…)
+ Thường
sử dụng câu đơn, đặc biệt là những
câu cảm thán, câu chào hỏi…
+ Kết cấu
trong câu có thể tỉnh lược tối đa
hoặc dài dòng, lủng củng .
b. Khoa học: dùng trong nghiên cứu, học tập với ba hình thức chuyên sâu, giáo khoa và phổ cập; tồn tại chủ yếu dưới dạng viết.
Các đặc điểm ngôn ngữ:
+ Sử dụng
nhiều và chính xác các thuật ngữ khoa học.
+ Sử dụng
các từ ngữ trừu tượng, không biểu lộ cảm xúc cá nhân.
+ Các đại từ ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất với
ý nghĩa khái quát được sử dụng nhiều
như người ta, chúng ta, chúng tôi…
+ Câu hoàn chỉnh, cú pháp câu rõ ràng, chỉ có
một cách hiểu.
+ Câu ghép điều kiện – kết quả thường được sử
dụng phổ biến trong phong cách ngôn ngữ này, chứa nhiều lập luận khoa học và
khả năng logic của hệ thống.
+ Thường
sử dụng những cấu trúc khuyết chủ ngữ
hoặc chủ ngữ không xác định (vì hướng tới nhiều đối tượng chứ không bó hẹp
trong phạm vi một đối tượng)
c. Báo chí: sử dụng trong lĩnh vực báo chí
với ba dạng tồn tại chủ yếu dạng nói (đài phát thanh), dạng hình – nói (thời
sự), dạng viết (báo giấy).
Các đặc điểm ngôn ngữ:
+ Từ ngữ
có tính toàn dân, thông dụng
+ Từ có
màu sắc biểu cảm, cảm xúc: giật tít trên các báo mạng, báo lá cải
+ Sử dụng
nhiều từ có màu sắc trang trọng hoặc lớp từ ngữ riêng của phong cách báo chí.
d. Chính luận: Dùng trong các lĩnh vực chính trị xã hội (thông báo, tác động,
chứng minh)
Các đặc điểm ngôn ngữ:
+ Lập
luận chặt chẽ, lí lẽ hùng hồn, dẫn chứng xác thực để tỏ rõ quan điểm, lập
trường của cá nhân.
+ Sử dụng
đa dạng các loại câu: đơn, ghép,
tường thuật, nghi vấn, cảm thán…
+ Câu văn
thường dài, chia làm tầng bậc làm tư tưởng nêu ra được chặt
chẽ
+ Sử dụng
lối nói trùng điệp, cách so sánh giàu tính liên tưởng và tương phản để nhấn mạnh vào thông tin
người viết cung cấp
e. Hành chính: Sử dụng trong giao tiếp hành
chính (nhà nước – nhân dân, nhân dân với các cơ quan nhà nước…)
Các đặc điểm ngôn ngữ:
+ Lớp từ ngữ hành chính mang nét riêng,
nghiêm chỉnh, có thể chế của sự diễn đạt hành chính
+ Dùng
những từ ngữ chính xác về nội dung,
không sử dụng những từ thể hiện cảm xúc cá nhân
+ Từ Hán Việt chiếm tỉ lệ lớn.
+ Sử dụng
câu trần thuật là chủ yếu, chỉ có
một nghĩa
f. Văn chương (Bao gồm các thể
loại văn học: nghị luận, trào phúng, kịch, văn xuôi (lãng mạn, hiện thực), kí,
tùy bút…)
Các đặc điểm ngôn ngữ:
+ Các yếu
tố âm thanh, vần, điệu, tiết tấu được vận
dụng một cách đầy nghệ thuật
+ Sử dụng
rất đa dạng các loại từ cả từ phổ
thông và địa phương, biệt ngữ => độc đáo của phong cách ngôn ngữ văn chương:
Mỗi thể loại văn có một phong cách khác nhau và mỗi tác giả có phong cách nghệ
thuật khác nhau.
+ Cấu
trúc câu được sử dụng là hầu hết các
loại câu, sự sáng tạo trong các cấu trúc câu thường dựa vào khả năng của
người nghệ sĩ.
Xác định
phong cách ngôn ngữ văn học dựa trên các đặc điểm ngôn ngữ của chúng. Tránh
tình trạng nhầm lẫn giữa các phong cách với nhau.
Mẹo: Thông thường khi cho một đoạn
trích người ra đề sẽ cho biết nguồn
trích dẫn của đoạn trích ở đâu. Học sinh có thể dựa vào đó để xác định
phong cách ngôn ngữ của đoạn trích.
* Phương
thức biểu đạt
|
STT |
Phương thức |
Khái niệm |
Dấu hiệu nhận biết |
|
1 |
Tự sự |
- Dùng
ngôn ngữ để kể lại một hoặc một chuỗi các sự kiện, có mở đầu -> kết thúc - Ngoài
ra còn dùng để khắc họa nhân vật (tính cách, tâm lí...) hoặc quá trình nhận
thức của con người |
- Có sự
kiện, cốt truyện - Có
diễn biến câu chuyện - Có
nhân vật - Có
các câu trần thuật/đối thoại |
|
2 |
Miêu tả |
Dùng
ngôn ngữ để tái hiện lại những đặc điểm, tính chất, nội tâm của người, sự
vật, hiện tượng |
- Các
câu văn miêu tả - Từ
ngữ sử dụng chủ yếu là tính từ |
|
3 |
Biểu cảm |
Dùng
ngôn ngữ bộc lộ cảm xúc, thái độ về thế giới xung quanh |
- Câu
thơ, văn bộc lộ cảm xúc của người viết - Có
các từ ngữ thể hiện cảm xúc: ơi, ôi.... |
|
4 |
Thuyết minh |
Trình
bày, giới thiệu các thông tin, hiểu biết, đặc điểm, tính chất của sự vật,
hiện tượng |
- Các
câu văn miêu tả đặc điểm, tính chất của đối tượng - Có
thể là những số liệu chứng minh |
|
5 |
Nghị luận |
Bàn bạc
phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người
viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình |
- Có
vấn đề nghị luận và quan điểm của người viết - Từ
ngữ thường mang tính khái quát cao (nêu chân lí, quy luật) - Sử
dụng các thao tác: lập luận, giải thích, chứng minh |
|
6 |
Hành chính - công vụ |
Là
phương thức giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan
Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở
pháp lí |
- Hợp
đồng, hóa đơn... - Đơn
từ, chứng chỉ... (Phương thức và phong cách hành
chính công vụ thường không xuất hiện trong bài đọc hiểu) |
* Thao
tác lập luận
|
STT |
Thao tác lập luận |
Khái niệm |
|
1 |
Giải
thích |
Dùng lí
lẽ để cắt nghĩa, giảng giải sự vật, hiện tượng, khái niệm |
|
2 |
Phân
tích |
Chia
nhỏ đối tượng thành các yếu tố có tính hệ thống để xem xét đối tượng toàn
diện |
|
3 |
Chứng
minh |
Dùng
dẫn chứng xác thực, khoa học để làm rõ đối tượng Dẫn
chứng thường phong phú, đa dạng trên nhiều phương diện |
|
4 |
So sánh |
Đặt đối
tượng trong mối tương quan, cái nhìn đối sánh để thấy đặc điểm, tính chất của
nó |
|
5 |
Bình
luận |
Đưa ra
nhận xét, đánh giá, bàn bạc của cá nhân về một vấn đề |
|
6 |
Bác bỏ |
Trao
đổi, tranh luận để bác bỏ những ý kiến sai lệch |
- Câu 2:
Nội dung chính của đoạn trích thường là câu
mở đầu (viết theo lối diễn dịch)
hoặc câu kết thúc (viết theo lối quy nạp) – khi đề bài yêu cầu xác định
câu chủ đề.
Trong
trường hợp họ yêu cầu xác định nội dung chính của đoạn trích tức là kiểm tra
khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát của học sinh nên học sinh cần phải khái quát nội dung bằng ngôn ngữ của mình.
Mẹo: Lớp từ ngữ nào xuất hiện nhiều nhất trong bài chắc
chắn nội dung của đoạn trích sẽ theo
chiều hướng của lớp từ ấy. Chẳng hạn lớp từ ngữ tiêu cực khi nói tới một
hiện tượng xã hội => Nội dung chính của đoạn trích sẽ là: tác hại của…
- Câu 3:
Xác định biện pháp nghệ thuật trong đoạn trích
+ Nếu là
một đoạn trích trong tác phẩm văn học => phân tích nó giống như phân tích
tác phẩm (yêu cầu học sinh nắm được bài)
+ Nếu là
đoạn trích từ các bài viết trên báo hoặc các hình thức khác thì có một số biện
pháp nghệ thuật chủ yếu sau: liệt kê; lặp cấu trúc, từ ngữ; chứng minh (đưa các
dẫn chứng cụ thể); đối lập (nội dung câu trước với câu sau); tăng tiến (mức độ
tăng dần từ câu trước đến câu sau)
|
STT |
Kiến thức |
Khái niệm |
Ví dụ |
|
1 |
Từ đơn |
Là từ
chỉ có một tiếng |
Nhà,
bàn, ghế,… |
|
2 |
Từ phức |
Là từ
có từ hai tiếng trở lên |
Nhà
cửa, hợp tác xã,… |
|
3 |
Từ ghép |
Là
những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau |
Quần
áo, ăn uống, chợ búa…. |
|
4 |
Từ láy |
Là
những từ phức có quan hệ láy âm giữa các tiếng |
Long
lanh, âm ỉ… |
|
5 |
Thành
ngữ |
Loại từ
có cấu tạo cố định, có vai trò như một từ |
Có chí
thì nên, kiến bò miệng chén |
|
6 |
Tục ngữ |
Những
câu nói tổng kết kinh nghiệm dân gian |
Ngựa
non háu đá; chó treo, mèo đậy… |
|
7 |
Nghĩa
của từ |
Là nội
dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ…) mà từ biểu thị |
Bàn,
ghế, văn, toán… |
|
8 |
Từ
nhiều nghĩa |
là từ
mang những sắc thái ý nghĩa khác nhau do hiện tượng chuyển nghĩa của từ mang
lại |
Lá phổi của
thành phố |
|
9 |
Hiện
tượng chuyển nghĩa của từ |
Là hiện
tượng tạo ra thêm nghĩa mới cho một từ đã có trước đó tạo ra từ nhiều nghĩa
(nghĩa gốc (đen) -> nghĩa chuyển (bóng)) |
Bà em
đã 70 xuân |
|
10 |
Từ đồng
âm |
Là
những từ có cách phát âm giống nhau nhưng không liên quan tới nhau về mặt ngữ
nghĩa |
Con
ngựa đá con ngựa đá |
|
11 |
Từ đồng
nghĩa |
Là
những từ có nghĩa giống hoặc gần giống nhau |
Heo –
lợn, ngô – bắp, chết – hi sinh…. |
|
12 |
Từ trái
nghĩa |
Là
những từ có ý nghĩa trái ngược nhau |
Béo –
gầy, chăm – lười, xinh – xấu… |
|
13 |
Từ Hán
Việt |
Là
những từ gốc Hán được phát âm theo cách của người Việt |
Phi cơ,
hỏa xa, biên cương, viễn xứ… |
|
14 |
Từ
tượng hình |
Là
những từ gợi tả hình dáng, dáng vẻ, trạng thái của sự vật |
Lom
khom, mập mạp, gầy gò… |
|
15 |
Từ
tượng thanh |
Là
những từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, con người |
Khúc
khích, xào xạc, rì rầm… |
|
16 |
Ẩn dụ |
Là gọi
tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng
nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi tả cho sự diễn đạt |
Uống
nước nhớ nguồn; Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi – Mặt trời của mẹ em nằm
trên lưng…. |
|
17 |
Nhân
hóa |
Là gọi
hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật…bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc
tả con người làm cho thế giới loài vật trở nên gần gũi với con người |
Trâu ơi
ta bảo trâu này Trâu ra
ngoài ruộng trâu cày với ta…. |
|
18 |
Nói quá |
Là biện
pháp phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả
để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm |
Nở từng
khúc ruột; một giọt máu đào hơn ao nước lã…. |
|
19 |
Nói
giảm nói tránh |
Là biện
pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển để tránh gây cảm giác quá
đau buồn, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu lịch sự |
Bác đã
đi về theo tổ tiên Mac, Lê
nin thế giới người hiền |
|
20 |
Liệt kê |
Là sắp
xếp nối tiếp hàng loạt loại từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ hơn,
sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế, tư tưởng, tình cảm |
Chiều
chiều lại nhớ chiều chiều Nhớ
người thục nữ khăn điều vắt vai |
|
21 |
Điệp
ngữ |
Biện
pháp lặp lại từ ngữ (hoặc cả câu) để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh |
Không
có kính rồi xe không có đèn Không
có mui xe thùng xe có xước… |
|
22 |
Chơi
chữ |
Lợi
dụng những đặc sắc về âm, về nghĩa của từ để tạo sắc thái dí dỏm, hài
hước…làm câu văn hấp dẫn hơn |
Con mèo
cái nằm trên mái kèo… |
B. Câu nghị luận xã hội (2 điểm):
Trình bày
quan điểm cá nhân về một hiện tượng, quan niệm nào đó.
1. Các dạng NLXH thường gặp
1.1. Nghị
luận về một hiện tượng đời sống
- Khái
niệm: Trình bày quan điểm cá nhân về một vấn đề, hiện tượng đang tồn tại trong đời sống hiện nay.
- Phân loại:
+ Hiện
tượng tốt có tác động tích cực (tiếp sức mùa thi, hiến máu nhân đạo…)
+ Hiện
tượng xấu có tác động tiêu cực (Bạo lực học đường, tai nạn giao thông…)
+ Dạng đề
thi nghị luận về một mẩu tin tức báo chí.
1.2. Nghị
luận về một tư tưởng đạo lý
- Khái
niệm: Trình bày quan điểm cá nhân về các vấn đề của đời sống xã hội như : đạo
đức, tư tưởng, văn hoá, nhân sinh quan, thế giới quan,…
- Có thể
khái quát một số vấn đề thường được đưa vào đề thi như: Về nhận thức (lí tưởng , mục đích sống); Về tâm hồn,tính cách, phẩm chất (lòng nhân ái, vị tha, độ lượng…,
tính trung thực ,dũng cảm chăm chỉ , cần cù, …); Về quan hệ gia đình, quan hệ xã hội (Tình mẫu tử , tình anh em,
tình thầy trò , tình bạn, tình đồng bào…); Về
lối sống, quan niệm sống,…
2. Phân biệt 2 dạng nghị luận
|
Các bước làm |
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí |
Nghị luận về một hiện tượng đời sống |
|
Bước 1 (chung) giải thích |
- Tìm
những từ khó trong câu để giải thích. VD: giông tố, cúi đầu… - Giải
thích nghĩa của cả câu, bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng. |
Giải
thích xem hiện tượng đó là gì? VD:
hiện tượng xuống cấp về đạo đức của một bộ phận giới trẻ; hiện tượng thanh
niên sống thờ ơ, vô cảm với cuộc đời… |
|
Bước 2 |
BÀN LUẬN: đặt
các câu hỏi để khai thác vấn đề ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh như trình bày ở
trên |
HIỆN TRẠNG của
hiện tượng tồn tại trong thực tế đời sống là gì? Phân tích mặt đúng – sai của
hiện tượng đó. VD:
xuống cấp đạo đức được thể hiện qua những khía cạnh nào (quan hệ thầy trò,
quan hệ con cái – cha mẹ…); sống thờ ơ, vô cảm được thể hiện qua mặt nào (vô
trách nhiệm với chính bản thân mình, ko có lí tưởng, mục đích sống; chai sạn
về cảm xúc…) |
|
Bước 3 |
PHẢN BIỆN lại
vấn đề: trả lời câu hỏi được đưa ra ở phía trên. |
NGUYÊN NHÂN của
hiện tượng là gì? + Khách
quan: do môi trường xung quanh tác động vào nhận thức của con người (bố mẹ li
thân, gia đình không hạnh phúc, sống trong một môi trường đầy rẫy những tệ
nạn xã hội….) + Chủ
quan: do chính bản thân mỗi con người (lí chí không có, sống buông thả, vô
trách nhiệm, bất cần và đôi khi là có vấn đề về tâm lí….) |
|
Bước 4 |
|
Hậu/hệ quả: mà
hiện tượng tác động tới đời sống xã hội - Xã
hội - Cá
nhân |
|
Bước 5 |
BÀI HỌC CHO BẢN THÂN: tự
rút ra bài học cho mình nói riêng và cho thế hệ học sinh,sinh viên nói chung |
BIỆN PHÁP khắc
phục hiện tượng đó: (Các biện pháp chung cho tất cả các hiện tượng đời sống
xã hội) + Tuyên
truyền, giải thích, nâng cao nhận thức cho người dân và cho học sinh, sinh
viên. + Mỗi
người cần tự học tập, rèn luyện bản thân cho vững vàng, bản lĩnh để đối mặt
với cuộc đời. +Đối
với học sinh, sinh viên: trau dồi tri thức và làm đầy tâm hồn mình để nó phát
triển đúng hưởng chứ không lệch lạc… |
3. Kỹ năng phân tích đề:
3.1. NLXH về hiện tượng đời sống:
Xác định
ba yêu cầu
- Yêu cầu
về nội dung: Hiện tượng cần bàn luận là hiện tượng nào ? Đó là hiện tượng tốt
đẹp, tích cực trong đời sống hay hiện tượng mang tính chất tiêu cực, đang bị xã
hội lên án, phê phán ? Có bao nhiêu ý cần triển khai trong bài viết ? Mối quan
hệ giữa các ý như thế nào?
- Yêu cầu
về phương pháp : Các thao tác nghị luận chính cần sử dụng ? Giải thích, chứng
minh, bình luận, phân tích, bác bỏ, so sánh,…
- Yêu cầu
về phạm vi dẫn chứng: Bài viết có thể lấy dẫn chứng trong văn học, trong đời
sống thực tiễn (chủ yếu là đời sống thực tiễn).
3.2. NLXH về tư tưởng đạo lí: Các bước phân tích đề :
- Đọc kĩ
đề bài ,gạch chân các từ then chốt (những từ chứa đựng ý nghĩa của đề), chú ý
các yêu cầu của đề (nếu có), xác định yêu cầu của đề (Tìm hiểu nội dung của đề,
tìm hiểu hình thức và phạm vi tư liệu cần sử dụng).
- Cần trả
lời các câu hỏi sau: Đây là dạng đề nào? Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết? Có
thể viết lại rõ ràng luận đề ra giấy?
- Có 2
dạng đề:
+ Đề nổi,
học sinh dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài.
+ Đề
chìm, học sinh cần đọc kĩ đề bài, dựa vào ý nghĩa câu nói, câu chuyện , văn bản
được trích dẫn mà xác định luận đề.
C. Câu nghị luận văn học: Phân tích giống như bình thường
- Mở bài:
Nêu được tác phẩm gì, của ai, yêu cầu của đề bài
- Thân
bài:
+ Đoạn
đầu tiên: Nêu những nét khái quát nhất về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác
phẩm, nội dung tóm tắt của tác phẩm (trong trường hợp đề bài yêu cầu phân tích
một phần), yêu cầu của đề bài.
+ Lí giải
nhan đề, lời đề từ
+ Phân
tích tác phẩm theo bố cục bình thường (Phần chốt lại của mỗi ý cần nhấn
mạnh yêu cầu của đề bài)
+ Tổng
kết: Sau khi phân tích xong cả tác phẩm, có phần tổng kết lại nghệ thuật, nội
dung chính và đặc biệt là nêu quan điểm của mình về ý kiến người ta yêu cầu
trong đề bài => Phần này sẽ được cho điểm sáng tạo và cộng điểm, vì ít học
sinh chú ý đến nó.
=>
Trong trường hợp không kịp viết kết bài thì phần tổng kết sẽ làm nhiệm vụ đấy,
tức bài của mình vẫn đầy đủ kết cấu 3 phần
=>
Trường hợp đang viết thân bài nhưng hết thời gian, chấm chấm thân bài để xuống
viết luôn kết bài, ĐẢM BẢO 3 PHẦN của
bài văn.
- Kết
bài: Đánh giá khái quát nội dung, nghệ thuật và giá trị của tác phẩm, nhắc lại
ý kiến trong đề bài
D. Một số lưu ý
- Trong
bài nghị luận về một hiện tượng đời sống hoặc một tư tưởng đạo lí cần có một
đoạn lập luận (đưa lí lẽ) rồi mới tới dẫn chứng.
- Các dẫn
chứng đưa ra cần tiêu biểu, là các hiện tượng xã hội nóng bỏng: Nick Vujicic,
Bác Hồ, Nguyễn Ngọc Kí, Edison,… Dẫn chứng cần lấy trên tất cả các lĩnh vực,
không nên bó hẹp trong một khuôn khổ nhất định => Thể hiện tầm hiểu biết và
sự trải nghiệm cá nhân.
- Trong
bài viết tránh xưng tôi và đưa cái tôi vào trong bài, nên sử dụng đại từ mang ý
nghĩa khái quát là ta, chúng ta, họ.
- Khi
phân tích tác phẩm văn học, chỉ mở rộng bằng các dẫn chứng (thơ, văn) khi thực
sự nhớ chính xác nếu không thì tuyệt đối không được đưa vào.
Một số đề
đọc hiểu ôn thi
Đề 1
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn
thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
“Nắm nhau tôi chôn góc phù sa sông Mã
Trăm thác nghìn ghềnh cuộn xoáy vào tơ
Làng cong xuống dáng tre già trước tuổi
Tiếng gọi đò khuya sạt cả đôi bờ.
Con hến, con trai một đời nằm lệch
Lấm láp đất bùn đứng thẳng cũng nghiêng
Mẹ gạt mồ hôi để ngoài câu hát
Giấc mơ tôi ngọt hơi thở láng giềng.
Hạt thóc củ khoai đặt đâu cũng thấp
Cả những khi rổ rá đội lên đầu
Chiếc liềm nhỏ không còn nơi cắt chấu
Gặt hái xong rồi rơm, rạ bó nhau.”
(Nguyễn Minh Khiêm, Một góc phù
sa, NXB Hội Nhà văn 2007, tr 18&19)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt
chính của đoạn thơ.
Câu 2. Chỉ ra các từ ngữ/hình ảnh nói
về quê hương bình dị, gần gũi trong kí ức của nhà thơ.
Câu 3. Hai câu thơ Mẹ gạt mồ hôi để
ngoài câu hát/Giấc mơ tôi ngọt hơi thở láng giềng gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Câu 4. Bài học cuộc sống có ý nghĩa
nhất với anh/chị khi đọc đoạn thơ trên là gì? Vì sao?
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
3.00 |
|
1 |
Phương
thức biểu đạt chính: Biểu cảm/Phương thức biểu cảm |
0.50 |
|
|
2 |
Các từ
ngữ/hình ảnh: phù sa sông Mã, con hến, con trai, hạt thóc, củ khoai, rơm, rạ…
(Thí sinh chỉ ra được một đến ba từ ngữ/hình ảnh cho 0.25 điểm, từ bốn từ
ngữ/hình ảnh trở lên cho 0.50 điểm) |
0.50 |
|
|
3 |
– Hình
ảnh người mẹ tần tảo, lạc quan yêu đời– Kí ức về tuổi thơ gắn bó với quê
hương, xóm giềng và người mẹ yêu quý. Kí ức đẹp đẽ đó sẽ theo mãi cuộc sống
con người. |
1.00 |
|
|
4 |
Thí
sinh có thể đưa ra những bài học khác nhau nhưng cần lí giải vấn đề phù hợp
với chuẩn mực đạo đức và pháp luật (Một số bài học: Trân trọng những người thân yêu xung quanh mình; Gần gũi, gắn bó với
quê hương, coi đó là nguồn cội quan trọng đối với bản thân mình…) |
1.00 |
Đề 2
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây:
Tuổi trẻ là đặc ân vô giá của tạo
hóa ban cho bạn. Vô nghĩa của đời người là để tuổi xuân trôi qua trong vô
vọng.(…) Người ta bảo, thời gian là vàng bạc, nhưng sử dụng đúng thời gian của
tuổi trẻ là bảo bối của thành công. Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu,
thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống. Nếu chỉ
chăm chăm và tán dương tài năng thiên bẩm thì chẳng khác nào chim trời chỉ vỗ
cánh mà chẳng bao giờ bay được lên cao. Mỗi ngày trôi qua rất nhanh. Bạn đã
dành thời gian cho những việc gì ? Cho bạn bè, cho người yêu, cho đồng loại và
cho công việc? Và có bao giờ bạn rùng mình vì đã để thời gian trôi qua không
lưu lại dấu tích gì không ?
Các bạn hãy xây dựng tầm nhìn
rộng mở (…), biến tri thức của loài người, của thời đại thành tri thức bản thân
và cộng đồng, vận dụng vào hoạt động thực tiễn của mình. Trước mắt là tích lũy
tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường để mai ngày khởi nghiệp; tự mình xây
dựng các chuẩn mực cho bản thân; nhận diện cái đúng, cái sai, cái đáng làm và
cái không nên làm. Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công
bạn cần có nền tảng về mọi mặt, thiếu nó không chỉ chông chênh mà có khi vấp
ngã.
(Theo Báo mới.com; 26/ 03/ 2016)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Chỉ ra điều cần làm trước mắt
được nêu trong đoạn trích.
Câu 2: Phân tích ngắn gọn tác dụng của
câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 3: Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến:
“Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công bạn cần có nền tảng
về mọi mặt”?
Câu 4: Anh/chị có cho rằng “Tài năng
thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và
thậm chí là cuộc sống” không? Vì sao?
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
3,0 |
|
1 |
Điều
cần làm trước mắt là: – tích
lũy tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường để mai ngày khởi nghiệp; – tự
mình xây dựng các chuẩn mực cho bản thân; – nhận
diện cái đúng, cái sai, cái đáng làm và cái không nên làm.(Lưu ý: HS nêu đủ các điều cần làm mới
cho điểm tối đa; chỉ nêu được 2/3 điều thì cho 0,25 điểm) |
0,5 |
|
|
2 |
– Câu
hỏi tu từ: Bạn đã giành …..dấu tích gì
không? – Tác
dụng: Hỏi thể hiện sự trăn trở về việc sử dụng quỹ thời gian, cảnh báo việc
để thời gian trôi qua một cách vô nghĩa. Từ đó nhắc nhở mỗi người trân quý
thời gian và có ý thức sử dụng thời gian hiệu quả, ý nghĩa.( Lưu ý : HS chỉ
cần đưa ra 1 câu hoặc 3 câu cũng được ) |
0,75 |
|
|
3 |
– Ý
kiến Trường đời….mọi mặt có thể
hiểu: + đời
sống thực tiến là một môi trường lí tưởng, tuyệt vời để chúng ta trau dồi
kiến thức, rèn luyện kinh nghiệm, bồi dưỡng nhân cách…; + song
muốn thành công trước hết ta cần chuẩn bị hành trang, xây dựng nền móng vững
chắc từ nhiều môi trường giáo dục khác như gia đình, nhà trường… |
0,75 |
|
|
4 |
– Nêu
rõ quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình. – Lí
giải hợp lí, thuyết phục. |
0,5 0,5 |
Đề 3
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Giặc Covid đang áp đặt luật chơi
cho loài người, và đã thấy rõ con người mới yếu ớt, mỏng manh, nhỏ bé biết bao.
Trong cuộc chiến này, nếu muốn lật ngược thế cờ, đẩy giặc virus Covid ra khỏi
cơ thể, dập dịch thành công ở mỗi quốc gia, nhân loại, thì con người phải nghĩ
đến con người. Cá nhân nghĩ đến mình, những cũng phải nghĩ đến mọi người. Chỉ
cần Covid đục thủng phòng tuyến ở một người, và người đó chủ quan, vô tình,
tiếp xúc vô vtội vạ, không cách ly toàn xã hội, thì đội quân virus sẽ tràn lan
cả cộng đồng, cả quốc gia. Chỉ cần Covid xâm nhập vào một quốc gia, nhưng quốc
gia ấy và các quốc gia khác không phong tỏa, lơ là phòng chống, thì đại dịch sẽ
hoành hành, tàn phá khắp hành tinh.
Mỗi người hãy hòa mình vào dân
tộc, nhân loại. Loài người hãy hòa nhập với thiên nhiên. Không phá đi rồi xây.
Không hủy diệt rồi nuôi trồng. Không đối đầu. Không đối nghịch. Không đối
kháng. Con người phải đặt trong môi trường sinh thái của thiên nhiên, chung
sống hòa bình với vạn vật. Một con voi, con hổ, hay con sâu cái kiến, một loài
côn trùng, một loại vi khuẩn, một chủng virus nào đó cũng có vị thế trong vũ
trụ của Tạo hóa. Con người chớ ngạo mạn đến mức khùng điên làm chúa tể của muôn
loài không chế, thống trị chúng sinh, mà không biết sống hòa nhập hòa bình
trong sinh thái cân bằng.
Nhận thức lại về thiên nhiên và
giống loài trên trái đất để ứng xử là một điều cần thiết. Hy vọng nhân loại sẽ
đi qua đại dịch Covid 19. Sau bão giông, trời lại sáng. Những cánh rừng lại
xanh. Ngựa, dê, hổ báo nô đùa với con người. Chim chóc đậu nơi cửa sổ nghiêng
ngó đầu nhìn đôi vợ chồng trẻ sau một đêm nồng nàn đang ngủ nướng. Nắng mới
tràn mọi ngõ ngách! Cuộc sống thường nhật an lành sẽ lại về trong hạnh phúc
bình dị.
(https://vietnamnet.vn - “Loài
người có bớt ngạo mạn?” (trích) - Sương Nguyệt Minh)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt
chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2: Theo tác giả “Loài người hãy hòa
nhập với thiên nhiên” bằng những cách nào?
Câu 3: Anh/ chị hiểu như thế nào về
câu: Chỉ cần Covid đục thủng phòng tuyến ở một người, và người đó chủ quan, vô
tình, tiếp xúc vô tội vạ, không cách ly toàn xã hội, thì đội quân virus sẽ tràn
lan cả cộng đồng, cả quốc gia?
Câu 4: Anh/ chị có đồng tình với quan
điểm: Giặc Covid đang áp đặt luật chơi cho loài người, và đã thấy rõ con người
mới yếu ớt, mỏng manh, nhỏ bé biết bao? Vì sao?
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
3,0 |
|
1 |
Phương
thức biểu đạt: nghị luận |
0,5 |
|
|
2 |
Theo
tác giả “Loài người hãy hòa nhập với thiên nhiên” bằng những cách sau: - Không
phá đi rồi xây. - Không
hủy diệt rồi nuôi trồng. - Không
đối đầu. - Không
đối nghịch. - Không
đối kháng. - Con
người phải đặt trong môi trường sinh thái của thiên nhiên, chung sống hòa
bình với vạn vật |
0,5 |
|
|
3 |
- Sự
lây lan Covid 19 từ người sang người xảy ra liên tục. Nó là chủng mới hoàn
toàn chưa được xác định trước đó. Khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ gây ra hội
chứng viêm đường hô hấp cấp, dẫn đến suy hô hấp, thậm chí tử vong. Chủng mới
virus corona COVID-19 rất dễ lây truyền qua nhiều con đường… Đặc biệt, những
người không có triệu chứng vẫn có thể lan truyền virus COVID-19. Nó có thể
lây nhiễm ngay khi các triệu chứng vẫn còn nhẹ, thậm chí những người không có
triệu chứng (không có dấu hiệu bị bệnh). Có nghĩa là những người này có thể
truyền virus trước khi phát bệnh mà không phát hiện được. - Vì
thế, chỉ cần Covid đục thủng phòng tuyến ở một người, và người đó chủ quan,
vô tình, tiếp xúc vô tội vạ, không cách ly toàn xã hội, thì đội quân virus sẽ
tràn lan cả cộng đồng, cả quốc gia. |
1,0 |
|
|
4 |
Thí
sinh tự do nêu quan điểm, lí giải hợp lí, thuyết phục, làm rõ vấn đề, có thể
nêu theo 3 hướng: - Đồng
tình và giải thích được vì sao đồng tình. - Không
đồng tình và giải thích được vì sao không đồng tình. - Vừa
đồng tình, vừa không đồng tình và giải thích được lí do. * đồng
tình với quan điểm của tác giả: Giặc Covid đang áp đặt luật chơi cho loài
người, và đã thấy rõ con người mới yếu ớt, mỏng
manh, nhỏ bé biết bao. - Vì:
Trên thực tế… + “Giặc
Covid” rất dễ lây truyền từ người sang người bằng nhiều con đường. Virus này
đang áp dụng luật chơi cho loài người: Nó chỉ cần chọc thủng “phòng tuyến ở
một người”, mà người đó lại chủ quan, tiếp xúc với người khác, thì như phản
ứng “dây truyền”, nó nhanh chóng tràn lan cả cộng đồng, hủy diệt con người,
tàn phá mọi thành tựu con người gây dựng nên. + Trên
thế giới có hàng triệu người bị nhiễm virus corona, hàng trăm nghìn người
chết vì dịch bệnh này. Ngay ở các cường quốc lớn trên thế giới có nền y học
hiện đại, phát triển, cũng bị giặc Covid 19 hành hoành, gây cảnh chết chóc,
đau thương, bị thiệt hại nặng nề trên mọi lĩnh vực…Thế giới đã và đang điêu
đứng vì đại
dịch này. + Cuộc
chiến chống lại “giặc Covid ” vô cùng nan giải, đòi hỏi con người phải đoàn
kết lại, cùng chung tay đẩy lùi đại dịch. |
1,0 |
Đề 4
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn
bản sau và trả lời câu hỏi:
Cuộc sống luôn có nhiều áp lực
nên không phải lúc nào ta cũng có đủ vững chãi để làm chủ hết bản thân, nhất là
khi có những biến động bất ngờ. Trong những lúc tâm tư rối bời hoảng loạn hay
chán chường lạc lõng, ta luôn ước ao có một người thân bên cạnh để được chia
sẻ. Dù người ấy chẳng giúp ta giải quyết được vấn đề, thậm chí chẳng khuyên
được một điều gì bổ ích, nhưng chỉ cần thái độ lắng nghe hết lòng cũng đủ khiến
ta vơi đi rất nhiều phiền muộn rồi. Cho nên, được lắng nghe là nhu cầu không
thể thiếu của con người. Thế nhưng, điều nghịch lý là ai cũng muốn người khác
lắng nghe mình, còn mình lại không chịu lắng nghe ai cả.
(….) Nếu ta thực sự muốn giúp
người kia vơi đi những nỗi khổ niềm đau đang đè nặng trong lòng, thì việc trước
tiên là ta phải biết lắng nghe họ. Cũng như vị thầy thuốc trước khi chẩn mạch
kê toa thì phải luôn quan sát thần sắc của bệnh nhân. Sau đó, lắng nghe thật kĩ
càng những báo cáo hay những lời than thở về bệnh trạng. Khi ta quyết định lắng
nghe một người đang khổ, tức là ta đang đóng vai thầy thuốc để chữa trị bệnh
cho họ. Dù ta không phải nhà tâm lý trị liệu, nhưng với lòng chân thành và thái
độ lắng nghe đúng đắn, chắc chắn ta sẽ giúp được người kia ít nhiều. Vì vậy mỗi
khi chúng ta chuẩn bị lắng nghe, ta phải hỏi kỹ lại mình đã thật sự vào vai của
một người cứu giúp chưa?
(Theo Minh Niệm, Hiểu về trái
tim, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2017, tr.160-162)
Câu 1. Đoạn văn bản trên sử dụng thao
tác lập luận nào?
Câu 2. Theo tác giả, khi chúng ta lắng
nghe cần có thái độ như thế nào?
Câu 3. Vì sao tác giả cho rằng: “khi
ta quyết định lắng nghe một người đang khổ, tức là tức là ta đang đóng vai thầy
thuốc để chữa trị bệnh cho họ”?
Câu 4. Theo anh/chị, chúng ta cần lưu ý
điều gì khi lắng nghe ai đó?
II. LÀM VĂN
Được lắng
nghe là nhu cầu không thể thiếu của con người. Anh/chị hãy viết một đoạn văn
(khoảng 200 chữ) bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến trên.
Đề 5
I. Đọc hiểu
Đọc văn
bản sau và thực hiện các yêu cầu:
(1) Cuộc sống quanh ta có biết
bao nhiêu điều tốt đẹp đáng quý và cần trân trọng. Chỉ cần ta biết khéo léo
nhận ra và chọn lọc, chúng ta không hề thiếu thốn những hạt giống tốt đẹp để
gieo trồng. Mặt khác, trong cuộc sống cũng đầy rẫy những cỏ dại xấu xa. Chỉ cần
ta sống buông trôi, thiếu hiểu biết, cuộc đời ta sẽ phải trả giá bằng những u
ám, tối tăm kéo dài.
(2) Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa
thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn
tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất
kỳ ai khác.
(3) Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan
trọng, cần thiết không kém gì việc nuôi dưỡng thể xác, nhưng chúng ta rất
thường lãng quên không chú ý đến việc này. Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình
khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại. Nếu ý thức được điều này và bắt đầu chăm sóc gieo
trồng những hạt giống tốt lành, chắc chắn bạn sẽ có được một cuộc sống tươi vui
và hạnh phúc hơn nhiều.
(http://www.kynang.edu.vn/ky-nang-mem/nuoi-duong-tam-hon-noi-chinh-ban.html)
1. Chỉ ra
và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong đoạn (1)
2. Anh/
chị hiểu như thế nào về đoạn (2): Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý,
hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào
nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác?
3. Việc
nuôi dưỡng tâm hồn có ý nghĩa như thế nào đối với con người?
4. Thông
điệp mà anh/ chị tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu rõ lí do chọn thông điệp
đó.
II. Làm văn
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy
nghĩ của anh/chị về hậu quả của việc “bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy
cỏ dại” đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay được gợi ở phần Đọc hiểu.
Đề 6
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn thơ sau và thực
hiện các yêu cầu:
“Nắm nhau tôi chôn góc phù sa sông Mã
Trăm thác nghìn ghềnh cuộn xoáy vào tơ
Làng cong xuống dáng tre già trước tuổi
Tiếng gọi đò khuya sạt cả đôi bờ.
Con hến, con trai một đời nằm lệch
Lấm láp đất bùn đứng thẳng cũng nghiêng
Mẹ gạt mồ hôi để ngoài câu hát
Giấc mơ tôi ngọt hơi thở láng giềng.
Hạt thóc củ khoai đặt đâu cũng thấp
Cả những khi rổ rá đội lên đầu
Chiếc liềm nhỏ không còn nơi cắt chấu
Gặt hái xong rồi rơm, rạ bó nhau.”
(Nguyễn Minh Khiêm, Một góc phù sa, NXB Hội Nhà văn 2007, tr 18&19)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
Câu 2. Chỉ ra các từ ngữ/hình ảnh nói về quê hương bình dị,
gần gũi trong kí ức của nhà thơ.
Câu 3. Hai câu thơ Mẹ gạt mồ hôi để ngoài câu hát/Giấc mơ
tôi ngọt hơi thở láng giềng gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Câu 4. Bài học cuộc sống có ý nghĩa nhất với anh/chị khi đọc
đoạn thơ trên là gì? Vì sao?
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
3.00 |
|
1 |
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm/Phương thức biểu cảm |
0.50 |
|
|
2 |
Các từ ngữ/hình ảnh: phù sa sông Mã, con hến, con trai,
hạt thóc, củ khoai, rơm, rạ… (Thí sinh chỉ ra được một đến ba từ ngữ/hình ảnh
cho 0.25 điểm, từ bốn từ ngữ/hình ảnh trở lên cho 0.50 điểm) |
0.50 |
|
|
3 |
– Hình ảnh người mẹ tần tảo, lạc quan yêu đời– Kí ức về
tuổi thơ gắn bó với quê hương, xóm giềng và người mẹ yêu quý. Kí ức đẹp đẽ đó
sẽ theo mãi cuộc sống con người. |
1.00 |
|
|
4 |
Thí sinh có thể đưa ra những bài học khác nhau nhưng cần
lí giải vấn đề phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật (Một số bài học: Trân trọng những người thân yêu xung quanh
mình; Gần gũi, gắn bó với quê hương, coi đó là nguồn cội quan trọng đối với bản
thân mình…) |
|
Đề 7
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới
đây:
Tuổi trẻ là đặc ân vô
giá của tạo hóa ban cho bạn. Vô nghĩa của đời người là để tuổi xuân trôi qua
trong vô vọng.(…) Người ta bảo, thời gian là vàng bạc, nhưng sử dụng đúng thời
gian của tuổi trẻ là bảo bối của thành công. Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi
đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống. Nếu
chỉ chăm chăm và tán dương tài năng thiên bẩm thì chẳng khác nào chim trời chỉ
vỗ cánh mà chẳng bao giờ bay được lên cao. Mỗi ngày trôi qua rất nhanh. Bạn đã
dành thời gian cho những việc gì ? Cho bạn bè, cho người yêu, cho đồng loại và
cho công việc? Và có bao giờ bạn rùng mình vì đã để thời gian trôi qua không
lưu lại dấu tích gì không ?
Các bạn hãy xây dựng tầm
nhìn rộng mở (…), biến tri thức của loài người, của thời đại thành tri thức bản
thân và cộng đồng, vận dụng vào hoạt động thực tiễn của mình. Trước mắt là tích
lũy tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường để mai ngày khởi nghiệp; tự mình
xây dựng các chuẩn mực cho bản thân; nhận diện cái đúng, cái sai, cái đáng làm
và cái không nên làm. Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công
bạn cần có nền tảng về mọi mặt, thiếu nó không chỉ chông chênh mà có khi vấp
ngã.
(Theo
Báo mới.com; 26/ 03/ 2016)
Thực hiện các yêu
cầu:
Câu 1: Chỉ ra điều cần làm trước mắt được nêu trong đoạn
trích.
Câu 2: Phân tích ngắn gọn tác dụng của câu hỏi tu từ được sử
dụng trong đoạn trích trên.
Câu 3: Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến: “Trường đời là trường
học vĩ đại nhất, nhưng để thành công bạn cần có nền tảng về mọi mặt”?
Câu 4: Anh/chị có cho rằng “Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm
khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống”
không? Vì sao?
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
3,0 |
|
1 |
Điều cần làm trước mắt
là: – tích lũy tri thức khi
còn ngồi trên ghế nhà trường để mai ngày khởi nghiệp; – tự mình xây dựng các
chuẩn mực cho bản thân; – nhận diện cái đúng,
cái sai, cái đáng làm và cái không nên làm.(Lưu ý: HS nêu đủ các điều
cần làm mới cho điểm tối đa; chỉ nêu được 2/3 điều thì cho 0,25 điểm) |
0,5 |
|
|
2 |
– Câu hỏi tu từ: Bạn
đã giành …..dấu tích gì không? – Tác dụng: Hỏi thể hiện
sự trăn trở về việc sử dụng quỹ thời gian, cảnh báo việc để thời gian trôi
qua một cách vô nghĩa. Từ đó nhắc nhở mỗi người trân quý thời gian và có ý thức
sử dụng thời gian hiệu quả, ý nghĩa.( Lưu ý : HS chỉ cần đưa ra 1 câu hoặc 3
câu cũng được ) |
|
|
|
3 |
– Ý kiến Trường đời….mọi
mặt có thể hiểu: + đời sống thực tiến là
một môi trường lí tưởng, tuyệt vời để chúng ta trau dồi kiến thức, rèn luyện
kinh nghiệm, bồi dưỡng nhân cách…; + song muốn thành công
trước hết ta cần chuẩn bị hành trang, xây dựng nền móng vững chắc từ nhiều
môi trường giáo dục khác như gia đình, nhà trường… |
|
|
|
4 |
– Nêu rõ quan điểm đồng
tình hoặc không đồng tình. – Lí giải hợp lí, thuyết
phục. |
0,5 0,5 |
Đề 8
Đọc văn bản sau và thực hiện
các yêu cầu bên dưới:
“Cuộc sống riêng không
biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn,
dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. nó giống như một mảnh vườn được chăm
sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ
nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn
làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật
khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào.
Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế. Con người cần
một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong
sáng như trước. Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản
thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.”
[Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội,
1997]
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản
trên. [0,25 điểm]
Câu 2: Nêu nội dung chính của văn bản trên. [0,5 điểm]
Câu 3: Chỉ ra tác dụng của việc dùng phép so sánh trong văn bản
trên. [0,5 điểm]
Câu 4: Theo quan điểm riêng của anh/ chị, cuộc sống riêng
không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình gây ra những tác
hại gì? [Trả lời ít nhất 2 tác hại trong khoảng 5-7 dòng] [0,25 điểm]
ĐÁP ÁN
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản: phương thức
nghị luận/ nghị luận.
Câu 2. Nội dung chính của văn bản trên: khẳng định cuộc sống
riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc
sống sai lầm/bác bỏ một quan niệm sống sai lầm: sống bó hẹp trong ngưỡng cửa
nhà mình.
Câu 3. Tác giả đã so sánh cuộc sống của mỗi người (cuộc sống
đầy đủ tiện nghi; cuộc sống biệt lập;cuộc sống lúc sóng gió; …) với một mảnh vườn
(mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng; mảnh vườn
có lớp rào bao quanh; mảnh vườn lúc dông tố nổi lên;…)
Tác dụng: việc sử dụng
pháp so sánh khiến đoạn văn trở nên sinh động, truyền cảm, dễ hiểu, có sức thuyết
phục cao chứ không khô khan như khi chỉ sử dụng lí lẽ thuần túy.
Câu 4. Nêu ít nhất 02 tác hại của cuộc sống riêng không biết
đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình theo quan điểm riêng của bản
thân, không nhắc lại quan điểm của tác giả trong đoạn trích đã cho. Câu trả lời
phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
Đề 9
Đọc văn bản sau và thực hiện
các yêu cầu bên dưới:
Người
đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ? Khuôn mặt trẻ đẹp chim vào những miền
xa nào..
Đứa
bé đang lẫm chẫm muôn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa
hoa một điệu múa kì lạ.
Và
cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là
nơi dựa cho người đàn bà kia sống. Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi
mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết. Bà cụ lưng
còng tựa trên cánh tay anh bước tìmg bước run rẩy.
Trên
khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa
đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
Ai
biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơii dựa cho người chiến sĩ
kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)
Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên. [0,25
điểm]
Câu 2: Hãy chỉ ra nghịch lí trong hai câu in đậm của văn bản
trên. [0,25 điểm]
Câu 3: Qua văn bản trên, anh/ chị hiểu thế nào là nơi dựa của
mỗi con người trong cuộc đời? [0,5 điểm]
Câu 4: Xác định các dạng của phép điệp trong văn bản trên và
nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng. [0,5 điểm
ĐÁP ÁN
Câu 1. Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ văn
chương.
Câu 2. Nghịch lí trong hai câu in đậm của văn bản: Thông thường
người yếu đuối tìm nơi dựa ở người vững mạnh. Ở đây ngược lại. Người mẹ trẻ khỏe
dựa vào đứa con mới biết đi chập chững. Anh bộ đội dạn dày chiến trận dựa vào cụ
già bước từng bước run rẩy trên đường.
Câu 3. Nơi dựa của mỗi người trong cuộc đời mà bài thơ đề cập
đến là nơi dựa tinh thần, nơi con người tìm thấy niềm vui, ý nghĩa sống, …
Câu 4. Các dạng của phép điệp trong văn bản: điệp từ (đứa
bé, bà cụ, …), điệp ngữ (ai biết đâu, lại chính là nơi dựa, …), điệp cấu trúc
(câu mở đầu của 2 đoạn có cấu trúc giống nhau, câu kết của 2 đoạn cũng vậy), điệp
kết cấu giữa hai đoạn.
Hiệu quả nghệ thuật: tạo sự
cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa giữa hai đoạn thơ, góp phần khẳng định nơi dựa của
mỗi người trong cuộc sống chính là nơi ta tìm thấy niềm vui và hạnh phúc.
Đề 10
Đọc đoạn trích sau
và trả lời các câu hỏi:
Đọc sách là sinh hoạt và
nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. […] Không đọc
sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn nhu cầu
đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo
đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc, lâu dài và cần được
trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu
lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh
những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận động đọc sách trong
thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình.
Gần đây có một nước đã
phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách.
Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy
một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng
rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một
đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn, ngày 19-7-2007)
Câu 1 (0.5đ): Đoạn trích trên bàn luận về vấn đề gì?
Câu 2 (0.5đ): Theo tác giả, điều gì sẽ xảy ra nếu con người “không
còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”?
Câu 3 (1đ): Tác giả đã đưa ra những biện pháp gì để nâng cao văn
hóa đọc trong cộng đồng? Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả không?
Câu 4 (1đ): Nêu ngắn gọn suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của
việc giáo dục văn hóa đọc cho lứa tuổi học sinh, sinh viên.
Đáp án Đọc – hiểu
Câu 1:
Đoạn trích trên bàn luận về
vai trò của việc đọc sách, thực trạng xuống cấp của văn hóa đọc và giải pháp để
nâng cao văn hóa đọc.
Câu 2:
Theo tác giả, nếu con người
“không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” thì đời sống tinh thần của
con người sẽ trở nên nghèo nàn và nền tảng của đạo đức cũng biến mất.
Câu 3:
Các biện pháp được tác giả
đưa ra để nâng cao văn hóa đọc trong cộng đồng:
+ Các tổ chức thanh niên tổ
chức các cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước và vận động từng nhà
gây dựng tủ sách gia đình.
+ Học tập nước bạn, phát động
phong trào trong toàn quốc.
Câu 4:
Việc giáo dục văn hóa đọc
cho lứa tuổi học sinh, sinh viên là vô cùng quan trọng vì đây là thế hệ đại diện
cho đất nước, là lực lượng tiên phong trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Trau
dồi văn hóa đọc cũng là trang bị nền tảng kiến thức cho lớp trẻ. Từ đó, việc đọc
sách còn bồi đắp những phẩm chất tốt cho thanh thiếu niên.
Nhận xét
Đăng nhận xét